TRA CỨU
Thư mục - Vốn tư liệu
Năng lực sử dụng tiếng Nhật của giáo viên Việt Nam xét từ mối quan hệ giữa kinh nghiệm học tiếng giai đoạn đầu và quan niệm của giáo viên =

Năng lực sử dụng tiếng Nhật của giáo viên Việt Nam xét từ mối quan hệ giữa kinh nghiệm học tiếng giai đoạn đầu và quan niệm của giáo viên = : ベトナム人日本語教師の日本語運用力の特徴 一初期学習経験・ビリーフとの関係からー

 Tr. 95-106
Tác giả CN Kubota, Yoshiko
Nhan đề Năng lực sử dụng tiếng Nhật của giáo viên Việt Nam : xét từ mối quan hệ giữa kinh nghiệm học tiếng giai đoạn đầu và quan niệm của giáo viên = ベトナム人日本語教師の日本語運用力の特徴 一初期学習経験・ビリーフとの関係からー /Kubota yoshiko, Abe yoko, Yokoyama noriko
Mô tả vật lý Tr. 95-106
Tóm tắt Nghiên cứu này nhằm tìm hiểu mối quan hệ giữa khả năng sử dụng tiếng Nhật của giáo viên Việt Nam, kinh nghiệm học tiếng Nhật giai đoạn đầu và các quan niệm của giáo viên thông qua kết quả điều tra và phân tích các mối quan hệ này. Đối tượng điều tra là những học viên tham gia khóa học Đào tạo giáo viên tiếng Nhật của Trung tâm quốc tế tiếng Nhật thuộc Quỹ giao lưu quốc tế. Với mục đích đổi chiếu so sánh, chúng tôi cũng đưa thêm những dữ liệu của những học viên đến từ các nước khác. Phân tích kết quả điều tra cho thấy: 1. Đặc trưng khả năng sử dụng tiếng của những giáo viên người Việt Nam dạy tiếng Nhật là: năng lực ngữ pháp, đọc hiểu, từ vựng - chữ Hán tốt hơn khả năng diễn đạt bằng lời. Kết quả cuộc kiểm tra Năng lực hội thoại (OPI) cho thấy, từ cấp độ trung cấp (những phát ngôn thành câu), học viên đã thử sức với những miêu tả trừu tượng bằng vốn từ vụng, mẫu câu phong phú, tuy nhiên vẫn có vấn đề về tốc độ và độ lưu loát khi diễn đạt. 2. Đặc trưng quan niệm của giáo viên: ý thức cao về sử dụng chính xác. 3. Đặc trưng kinh nghiệm học tiếng Nhật giai đoạn đầu: có khuynh hướng chú trọng đến học ngữ pháp-học thuộc lòng-đọc dịch. Có thể nhận thấy mối quan hệ thuận giữa 3 đặc trung này. Đặc trưng về "ý thức về sử dụng chính xác" và "khả năng sử dụng tiếng Nhật" có trường hợp còn cho kết quả ngược chiều, nhưng về "khả năng sử dụng tiếng Nhật" kết hợp với việc học "ngữ pháp- học thuộc lòng-đọc dich" lại cho nhiều kết quả thuận chiều khả quan. Từ đó giúp chúng tôi hiểu rằng "ngữ pháp-học thuộc- đọc dịch" không gắn liền với "ý thức về sử dụng chính xác" và khả năng hội thoại.
Từ khóa tự do Gáo viên Việt Nam
Từ khóa tự do Giảng dạy tiếng Nhật
Từ khóa tự do Năng lực ngoại ngữ
Từ khóa tự do Tiếng Nhật Bản
Tác giả(bs) CN Yokoyama, noriko
Tác giả(bs) CN Abe, yoko
Nguồn trích Tạp chí Khoa học ngoại ngữ- Số 17/2008
MARC
Hiển thị đầy đủ trường & trường con
TagGiá trị
00000000nab#a2200000u##4500
00171911
0022
00480885245-CBB3-422C-9A78-0D6302AD7E83
005202504011425
008250401s2008 vm jpn
0091 0
039[ ] |y 20250401142455 |z maipt
100[0 ] |a Kubota, Yoshiko
245[1 0] |a Năng lực sử dụng tiếng Nhật của giáo viên Việt Nam : xét từ mối quan hệ giữa kinh nghiệm học tiếng giai đoạn đầu và quan niệm của giáo viên = |b ベトナム人日本語教師の日本語運用力の特徴 一初期学習経験・ビリーフとの関係からー / |c Kubota yoshiko, Abe yoko, Yokoyama noriko
300[ ] |a Tr. 95-106
520[ ] |a Nghiên cứu này nhằm tìm hiểu mối quan hệ giữa khả năng sử dụng tiếng Nhật của giáo viên Việt Nam, kinh nghiệm học tiếng Nhật giai đoạn đầu và các quan niệm của giáo viên thông qua kết quả điều tra và phân tích các mối quan hệ này. Đối tượng điều tra là những học viên tham gia khóa học Đào tạo giáo viên tiếng Nhật của Trung tâm quốc tế tiếng Nhật thuộc Quỹ giao lưu quốc tế. Với mục đích đổi chiếu so sánh, chúng tôi cũng đưa thêm những dữ liệu của những học viên đến từ các nước khác. Phân tích kết quả điều tra cho thấy: 1. Đặc trưng khả năng sử dụng tiếng của những giáo viên người Việt Nam dạy tiếng Nhật là: năng lực ngữ pháp, đọc hiểu, từ vựng - chữ Hán tốt hơn khả năng diễn đạt bằng lời. Kết quả cuộc kiểm tra Năng lực hội thoại (OPI) cho thấy, từ cấp độ trung cấp (những phát ngôn thành câu), học viên đã thử sức với những miêu tả trừu tượng bằng vốn từ vụng, mẫu câu phong phú, tuy nhiên vẫn có vấn đề về tốc độ và độ lưu loát khi diễn đạt. 2. Đặc trưng quan niệm của giáo viên: ý thức cao về sử dụng chính xác. 3. Đặc trưng kinh nghiệm học tiếng Nhật giai đoạn đầu: có khuynh hướng chú trọng đến học ngữ pháp-học thuộc lòng-đọc dịch. Có thể nhận thấy mối quan hệ thuận giữa 3 đặc trung này. Đặc trưng về "ý thức về sử dụng chính xác" và "khả năng sử dụng tiếng Nhật" có trường hợp còn cho kết quả ngược chiều, nhưng về "khả năng sử dụng tiếng Nhật" kết hợp với việc học "ngữ pháp- học thuộc lòng-đọc dich" lại cho nhiều kết quả thuận chiều khả quan. Từ đó giúp chúng tôi hiểu rằng "ngữ pháp-học thuộc- đọc dịch" không gắn liền với "ý thức về sử dụng chính xác" và khả năng hội thoại.
653[0 ] |a Gáo viên Việt Nam
653[0 ] |a Giảng dạy tiếng Nhật
653[0 ] |a Năng lực ngoại ngữ
653[0 ] |a Tiếng Nhật Bản
700[ ] |a Yokoyama, noriko
700[0 ] |a Abe, yoko
773[ ] |t Tạp chí Khoa học ngoại ngữ |g Số 17/2008